Ôn tập kiến thức môn Ngữ văn 9 - Tuần 5+6
Bạn đang xem tài liệu "Ôn tập kiến thức môn Ngữ văn 9 - Tuần 5+6", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Ôn tập kiến thức môn Ngữ văn 9 - Tuần 5+6
MÙA XUÂN NHO NHỎ -Thanh Hải- I/ KIẾN THỨC CƠ BẢN: 1/ Tác giả: Thanh Hải (1930-1980) tên khai sinh là Phạm Bá Ngoãn, quê ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. - Ông hoạt động văn nghệ từ cuối những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, là một trong những cây bút có công xây dựng nền văn học CM ở miền Nam từ những ngày đầu. - Thơ Thanh Hải thường ca ngợi tình yêu quê hương đất nước, ca ngợi sự hi sinh của nhân dân miền Nam và khẳng định niềm tin vào chiến thắng của CM. 2/Tác phẩm: a/Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” được viết vào tháng 11/ 1980, khi tác giả đang nằm trên giường bệnh (1 tháng trước khi nhà thơ qua đời), đất nước ta mới thống nhất lại đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thử thách. b/Thể thơ: - Thể thơ 5 chữ có âm hưởng nhẹ nhàng, tha thiết, giàu chất nhạc và gắn với các làn điệu dân ca. c/Phương thức biểu đạt: Biểu cảm kết hợp miêu tả d/ Mạch cảm xúc: - Bài thơ bắt đầu bằng những xúc cảm trực tiếp, hồn nhiên, trong trẻo trước vẻ đẹp và sức sống của mùa xuân thiên nhiên, đất trời. - Từ đó, mở rộng ra liên tưởng đến hình ảnh mùa xuân của đất nước hôm nay và cả đất nước bốn ngàn năm. II/PHÂN TÍCH: 1/ Khổ 1: Cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân của thiên nhiên Bức tranh của thiên nhiên được vẽ bằng nét chấm phá nhưng rất đặc sắc . “Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc, Ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời” o Hình ảnh thơ quen thuộc: dòng sông xanh, bông hoa tím nhưng cách tả khá gợi và thú vị. Với nghệ thuật đảo trật tự cú pháp, động từ “mọc” được đặt lên đầu câu thơ, đầu khổ thơ không chỉ tạo cho người đọc ấn tượng đột ngột, bất ngờ, mới lạ mà còn làm cho hình ảnh, sự vật trở nên sống động như đang diễn ra trước mắt. Người đọc tưởng như bông hoa tím biếc kia đang từ từ, lồ lộ mọc lên, vươn ra, xoè nở trên mặt nước giữa dòng sông xuân. o Chỉ vài nét phác hoạ đã vẽ ra cả một không gian cao rộng với dòng sông và bầu trời bao la, cả màu sắc tươi thắm của mùa xuân, cả âm thanh vang vọng, tươi vui của tiếng chim chiền chiện “Hót chi mà vang trời”. - Cảm xúc của tác giả trước trước mùa xuân đất trời thể hiện qua : o cái nhìn trìu mến với cảnh vật trong những lời bộc lộ trực tiếp như lời trò chuyện với thiên nhiên " ơi”, “hót chi mà" o Hai câu thơ : “Từng giọt long lanh rơi/ Tôi đưa tay tôi hứng” có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau. “Giọt long lanh” có thể là giọt mưa xuân, giọt sương mùa xuân rơi xuống từng nhành cây, kẽ lá . Ở đây, “giọt long lanh” cũng có thể được hiểu theo nghĩa ẩn dụ chuyến đổi cảm giác. Tiếng chim từ chỗ là âm thanh (cảm nhận bằng thính giác) chuyến thành từng giọt (hình, khối, cảm nhận bằng thị non, nhưng “lộc” còn có nghĩa là mùa xuân, là sức sống, là thành quả hạnh phúc. Người cầm súng giắt lộc để nguỵ trang như mang theo sức xuân vào trận địa, người ra đồng như gieo mùa xuân trên từng nương mạ. Những con người lao động chiến đấu ấy đã mang cả mùa xuân ra trận địa của mình để gặt hái mùa xuân về cho đất nước. - Họ chính là những người chiến đấu tay súng, tay cày làm nên bản đại hợp xướng mùa xuân đất nước- mùa xuân của nhân dân, dân tộc và thời đại. - Sức sống mùa xuân đất nước- mùa xuân lớn còn được cảm nhận bằng nhịp điệu hối hả, khẩn trương, náo nức: Tất cả như hối hả Tất cả như xôn xao - Điệp từ “tất cả” , cúng với từ láy “hối hả, xôn xao” giúp người đọc cảm nhận được, trên mảnh đất vừa thoát khỏi đau thương, tất cả như rạo rực, như đang nảy nở, sinh sôi trong cái men say của mùa xuân trong cuộc sống hòa bình. *Khổ 3: - Nhà thơ tin tưởng, tự hào về tương lai tươi sáng của đất nước cho dù trước mắt còn nhiều vất vả, khó khăn: Đất nước bốn nghìn năm Vất vả và gian lao Đất nước như vì sao Cứ đi lên phía trước. - Hình ảnh so sánh đẹp “Đất nước như vì sao; Cứ đi lên phía trước”, sao là nguồn sáng lấp lánh, là vẻ đẹp vĩnh hằng vượt qua mọi không gian và thời gian. Sao cũng là hình ảnh rạng ngời trên lá cờ Tổ quốc. - Qua đó tác giả bộc lộ niềm tự hào về một đất nước Việt Nam anh hùng và giàu đẹp. Đất nước mãi trường tồn, vĩnh cửu cùng vũ trụ, sẽ toả sáng như - Bài thơ được viết một tháng trước khi nhà thơ trở về với cát bụi nhưng không chút băn khoăn về bệnh tật, những suy nghĩ riêng tư cho bản thân mà chỉ “lặng lẽ một khát khao được dâng hiến”. - Đây không chỉ là khẩu hiệu của 1 thanh niên bước vào đời mà là lời tâm niệm của 1 con người đã từng trải qua 2 cuộc kháng chiến, đã cống hiến trọn cuộc đời và sự nghiệp cho cách mạng, vẫn tha thiết được sống đẹp, sống có ích. 4/ Lời ngợi ca quê hương, đất nước qua điệu dân ca xứ Huế (Khổ cuối) - Như một nhịp láy lại của khúc dân ca dịu dàng, đằm thắm tăng giá trị biểu hiện của các khổ thơ trên đem lại thi vị Huế trìu mến tha thiết. “Mùa xuân - ta xin hát Khúc Nam ai, Nam bình Nước non ngàn dặm mình Nước non ngàn dặm tình Nhịp phác tiền đất Huế". - Bài thơ khép lại trong âm điệu khúc Nam ai, Nam bình xứ Huế. Đoạn thơ kết thúc như một khúc hát ca ngợi mùa xuân, để lại dư vị sâu lắng. Nhà thơ muốn hát lên điệu Nam ai, Nam bình, điệu dân ca tha thiết xứ Huế để đón mừng mùa xuân. Câu ca nghe như một lời từ biệt để hoà vào vĩnh viễn. Nhưng đây không phải là lời ca buồn thủa trước “nhịp phách tiền đất Huế” nghe giòn giã, vang xa. - “Nước non ngàn dặm mình. Nước non ngàn dặm tình” còn ngân nga mãi mãi. - Phải yêu đời lắm, phải lạc quan lắm mới có thể hát lên trong hoàn cảnh nhà thơ lúc đó (đang ốm nặng và sắp qua đời). Điều đó làm ta càng yêu quý tiếng hát và tấm lòng nhà thơ. Như vậy, xuyên suốt bài thơ không chỉ là hình tượng mùa xuân. Từ tiếng chim chiền chiện tượng trưng cho khúc hát của đất trời đến làm một nốt nhạc trầm nhập vào bản hoà ca đất nước, và đến Điều này không phải là ngẫu nhiên mà là dụng ý nghệ thuật. Sự chuyển đổi này phù hợp với sự chuyến biến của cảm xúc và tư tưởng trong bài thơ. o Phần đầu bài thơ, tác giả dùng đại từ „tôi“ thích hợp để nói cảm xúc riêng của nhà thơ trước vẻ đẹp của mùa xuân. o Phần sau, chủ thể trữ tình chuyển sang xưng „ta“ là phù hợp. Nó không chỉ nói lên tâm nguyện của tác giả mà còn là ước nguyện cao đẹp chung của mọi người muốn cống hiến một phần nhỏ bé của mình cho cuộc đời, cho đất nước. Bài 3: Viết một đoạn văn khoảng 10 câu theo cách lập luận diễn dịch ( có sử dụng phép thế và thành phần biệt lập) phân tích khổ 4+5 để thấy được ước nguyện chân thành và cảm động của nhà thơ đối với đất nước, cuộc đời. (Xem mục 3, phần II) Bài 4 : Trong bài thơ có những hình ảnh mùa xuân nào? Phân tích những hình ảnh mùa xuân ấy. Gợi ý : - Có 3 hình ảnh mùa xuân trong bài thơ: mùa xuân của thiên nhiên, mùa xuân của đất nước, mùa xuân nhỏ của mỗi người. - Từ cảm hứng về mùa xuân thiên nhiên cảm nghĩ về mùa xuân đất nước. Từ mùa xuân lớn của thiên nhiên đất nước mà liên tưởng đến mùa xuân nhỏ của mỗi người – mỗi cuộc đời – một mùa xuân nho nhỏ góp vào mùa xuân lớn - Như vậy hình ảnh mùa xuân đất nước chuẩn bị và gợi ra những hình ảnh mùa xuân tiếp theo. Trong hình ảnh mùa xuân đất nước cũng có hình ảnh mùa xuân thiên nhiên. - Hình ảnh mùa xuân nho nhỏ của mỗi người cũng được thể hiện bằng những chi tiết đã được hiện ra trong hình ảnh mùa xuân thiên nhiên nhưng có sự biến đổi. - Trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ, ông hoạt động ở Nam Bộ, là một trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam thời chống Mỹ cứu nước. 2/ Tác phẩm a/Hoàn cảnh sáng tác – xuất xứ : - Bài thơ được sáng tác vào 4/1976, một năm sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc, miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, lăng chủ tịch Hồ Chí Minh cũng vừa khánh thành, tác giả ra thăm miền Bắc, vào lăng viếng Bác Hồ. - Bài thơ "Viếng lăng Bác" được sáng tác trong dịp đó, và in trong tập "Như mây mùa xuân” (1978). b/ Thể thơ: tự do c/ PTBĐ: Biểu cảm kết hợp miêu tả. d/ Cảm hứng bao trùm và mạch cảm xúc: - Cảm xúc bao trùm: niềm xúc động, kính yêu, lòng biết ơn, tự hào pha lẫn nỗi đau xót khi vào lăng viếng Bác. - Mạch cảm xúc của bài thơ diễn ra theo trình tự một cuộc vào lăng viếng Bác: đầu tiên là tâm trạng bồi hồi xúc động của tác giả khi đứng trước lăng, tiếp đến là nỗi đau đớn tiếc thương của tác giả khi bước vào lăng và cuối cùng là tâm trạng lưu luyến bịn rịn muốn mãi ở bên Bác khi rời lăng. e/ Nội dung: - Bài thơ thể hiện lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ và mọi người đối với Bác Hồ khi vào lăng viếng Bác. g/ Nghệ thuật: - Bài thơ có giọng điệu trang trọng và tha thiết, nhiều hình ảnh ẩn dụ đẹp và gợi cảm, ngôn ngữ bình dị mà cô đúc. cường của dân tộc Việt Nam “xanh xanh Việt Nam”, “bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”. o Chính vì thế tác giả không giấu được niềm xúc động xen lẫn tự hào được bộc lộ một cách trực tiếp qua từ cảm thán “Ôi!” . *Khổ 2: Sự tôn kính của tác giả khi đứng trước lăng Bác. -Hai câu đầu có hai hình ảnh sóng đôi: một hình ảnh thực và một hình ảnh ẩn dụ “Ngày ngàyđỏ.” o Đầu tiên là mặt trời của thiên nhiên rực rỡ vĩnh hằng được nhân hóa với hai hành động: ngày ngày “đi” qua trên lăng và “thấy” một mặt trời khác ở trong lăng. o Và “mặt trời trong lăng” là ẩn dụ chỉ Bác Hồ. Có thể nói nhiều người đã ví Bác như mặt trời nhưng đặt mặt trời Bác sóng đôi và trường tồn cùng mặt trời thiên nhiên là sáng tạo mới mẻ, độc đáo của Viễn Phương. Cách nói này cùng với từ láy “ngày ngày” đã ca ngợi được sự vĩ đại, bất tử của Bác: Bác như mặt trời đem lại ánh sáng soi đường chỉ lối, mang lại cuộc sống ấm no cho dân tộc, tư tưởng của Người có sức toả rạng mãi mãi. Đồng thời, nó còn thể hiện được sự tôn kính, ngưỡng mộ, tự hào, biết ơn của nhà thơ cũng như của nhân dân ta đối với Bác. -Hai câu sau: o Ở đây, “Dòng người đi trong thương nhớ” là hình ảnh tả thực cảnh ngày ngày dòng người vào lăng viếng Bác trong nỗi xúc động, bồi hồi, trong lòng tiếc thương kính cẩn và nặng trĩu nỗi nhớ thương. o Dòng người ấy như kết thành những “tràng hoa” vô tận. Đây là một ẩn dụ đẹp, một sáng tạo của nhà thơ gợi liên tưởng cuộc đời của những con o Tâm trạng xúc động của nhà thơ được biểu hiện bằng một hình ảnh ẩn dụ sâu xa: “trời xanh là mãi mãi”. Bác đã hoá thân vào thiên nhiên đất trời của dân tộc, sống mãi trong sự nghiệp và tâm trí của nhân dân như bầu trời xanh vĩnh viễn ở trên cao: “Bác sống như trời đất của ta” – Tố Hữu. o Dù vẫn tin như thế nhưng tác giả không thể không đau xót vì sự ra đi của Bác. Nỗi đau ấy đã được nhà thơ biểu hiện rất cụ thể, trực tiếp: “Mà sao nghe nhói ở trong tim!”. Từ “nhói” đã khắc họa nỗi đau quặn thắt, tê tái từ trong đáy sâu tâm hồn như hàng ngàn mũi kim đâm vào trái tim thổn thức của tác giả khi đứng trước thi thể của Người. Đó là sự rung cảm vô cùng mãnh liệt, chân thành của nhà thơ. Khổ thơ đã thể hiện được lòng kính yêu và niềm xót thương vô hạn của tác giả khi vào trong lăng. 3/Khổ 4: Cảm xúc của tác giả khi rời lăng: - Câu 1: o Câu thơ “Mai về miền Nam dâng trào nước mắt” giản dị nhưng ẩn chứa tình cảm sâu lắng. Nó như một lời giã biệt. o Động từ "trào" diễn tả cảm xúc thật mãnh liệt, luyến tiếc, bịn rịn không muốn xa nơi Bác nghỉ của tác giả. Đó cũng là tâm trạng chung của muôn triệu người dân Việt Nam đến với Bác - Câu 2,3,4 : Tình thương, lòng kính yêu ấy của nhà thơ trong phút giây đầy nhớ nhung, lưu luyến này đã bật lên thành bao ước nguyện : « Muốn làm con chim..này ». . o Nhà thơ muốn làm con chim hót mang âm thanh của thiên nhiên, đẹp đẽ, trong lành đến với Bác, muốn làm đoá hoa toả hương thơm thanh cao nơi Bác yên nghỉ. Đồng thời, ông còn muốn làm cây tre trung hiếu giữ mãi giấc ngủ bình yên cho Người.
File đính kèm:
on_tap_kien_thuc_mon_ngu_van_9_tuan_56.pdf

