Chuyên đề Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS năm 2018

pdf 9 trang lynguyen 05/02/2026 20
Bạn đang xem tài liệu "Chuyên đề Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS năm 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Chuyên đề Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS năm 2018

Chuyên đề Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS năm 2018
 PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN 10 
 TRƯỜNG THCS LẠC HỒNG 
 Thực hiện: GIÁO VIÊN SINH HỌC VÀ 
NHÓM HỌC SINH TUYÊN TRUYỀN VIÊN 
 THUỘC CÁC LỚP 9/1 và 8/1 
PHẦN II 
 A. Hoạt động tuyên truyền: 
 I. Tình hình nhiễm HIV – AIDS ở nước ta và trên thế giới: 
 Ở Việt Nam : 
 Năm 2015, nước ta có 10195 ca nhiễm HIV mới, trong đó có 2130 trường hợp tử 
 vong 
 Cuối năm 2015 : có tổng cộng 254000 người nhiễm HIV 
 Tỉnh Điện Biên có tỉ lệ nhiễm HIV cao nhất : 883 người 
 Kế đến là TPHCM : 712 người 
 Thái Nguyên đứng thứ 3 với 652 người 
 Tỉ lệ nhiễm HIV ở độ tuổi khoảng 20-40 tuổi 
 Trên Thế Giới 
 2014(triệu người) 2013(triệu người) 2012(triệu người) 
 Sống chung với 36,9 35 35,3 
 HIV 
 Ca nhiễm mới HIV 2,0 2,1 2,3 
 Chết do HIV 1,2 1,5 1,6 
 Tỉ lệ nhiễm mới và tỉ lệ chết đi do HIV đang giảm dần qua các năm 
 II. HIV – AIDS là gì 
 HIV là loại virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người. Khi Virus 
 HIV xâm nhập vào cơ thể con người, nó sẽ nhanh chóng và dễ dàng vượt qua được 
 hàng rào bảo vệ của các tế bào mono, lympho bào B và xâm nhập ttrực tiếp vào 
 lymphô bào T4, khiến cho loại tế bào lymphô này bị vô hiệu hóa chức năng tiết 
 kháng thể chống lại các bệnh nhiễm trùng thông thường, bệnh ung thư..lúc này 
 người bệnh sẽ nhiễm hàng loạt các bệnh cơ hội và cũng chết vì các bệnh cơ hội này. 
 AIDS là giai đoạn cuối cùng của quá trình nhiễm HIV được thể hiện bởi các tác nhân 
 nhiễm trùng cơ hội, ung thư và các bệnh liên quan đến rối loạn miễn dịch dẫn đến tử 
 vong. Thời gian từ khi nhiễm HIV đến biến chuyển thành bệnh AIDS tùy thuộc vào 
 hành vi và đáp ứng miễn dịch của từng người nhưng tựu chung lại trong khoảng thời 
 gian trung bình là 5 năm 
 III. Các con đường lây truyền HIV – AIDS 
 Các con đường nhiệm bệnh HIV/AIDS 
 Đường máu 
 Đường từ mẹ sang con 
 Đường tình dục 
 Nếu mẹ sinh con ra có đủ khả năng kinh tế thì nên cho con ăn sữa bột ngoài hoàn 
 toàn. 
 Nếu mẹ không đủ khả năng kinh tế thì nên cho con bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng 
 đầu, nghiêm cấm không cho trẻ ăn thêm thức ăn ngoài hoặc sử dụng núm vú cao su 
 cho trẻ, vì làm vậy sẽ khiến dạ dày trẻ non nớt bị tổn thương khiến HIV dễ dàng xâm 
 nhập vào trẻ hơn. 
 4. Phòng tránh HIV – AIDS trong học đường 
 Trên thực tế, hầu hết trẻ nhiễm HIV – AIDS độ tuổi tiểu học trở lên đều được đến 
 trường học chung với các trẻ em không nhiễm khác, duy chỉ có trẻ nhiễm HIV độ tuổi 
 mầm non thì được chăm sóc, dạy dỗ tại gia đình hoặc các Trung tâm bảo trợ xã hội do 
 điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng đặc biệt hơn. 
 Trẻ em ở tuổi tiểu học và phổ thông cơ sở rất hiếu động, chúng có thể trêu chọc gây 
 xây xát da, chảy máu nhưng nếu máu hoặc dịch tiết của học sinh nhiễm HIV dính vào 
 phần da, niêm mạc lành lặn của trẻ không nhiễm HIV thì cũng không có nguy cơ lây 
 truyền HIV. Khi HS nhiễm HIV ngồi học chung lớp, chung bàn, ăn uống chung mâm, 
 vui chơi chung với các HS khác thì không thể lây nhiễm HIV sang cho các bạn, vì 
 HIV không lây qua các tiếp xúc thông thường. 
 Đối với trẻ ở độ tuổi phổ thông trung học (thanh thiếu niên) ngoài nguy cơ trên có thể 
 trẻ bắt đầu có hành vi quan hệ tình dục. Tuy nhiên, trẻ nhiễm HIV ở độ tuổi này hầu 
 hết đang được quản lý sức khỏe và được điều trị bằng thuốc kháng HIV (ARV) tại 
 các cơ sở chăm sóc và điều trị HIV/AIDS. Các trẻ này được tư vấn rất kỹ về cách 
 phòng, tránh lây nhiễm HIV sang người khác và được hướng dẫn quan hệ tình dục an 
 toàn. Khả năng lây nhiễm HIV qua đường tình dục ở người đang điều trị bằng thuốc 
 ARV là rất thấp. 
 Bên cạnh đó, theo Tổ chức Y tế thế giới, nếu được điều trị bằng thuốc ARV thì làm 
 giảm 96% nguy cơ lây nhiễm HIV sang bạn tình không nhiễm HIV. Chính vì vậy, 
 nguy cơ lây nhiễm HIV trong môi trường học đường là rất hãn hữu. 
 Ngoài ra, do được tuyên truyền nhiều về các kiến thức cơ bản của HIV và chống kỳ 
 thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV nên trẻ em nhiễm HIV đã được đến trường 
 và hòa nhập với các HS khác. Tuy vây, nếu không may xảy ra tai nạn có tiếp xúc với 
 máu hoặc dịch tiết của học sinh nhiễm HIV thì ngay sau khi bị tiếp xúc với máu, dịch 
 tiết thì phải xối ngay vết thương dưới vòi nước, để vết thương tự chảy máu trong một 
 thời gian ngắn, không nặn bóp vết thương, rồi rửa kỹ bằng xà phòng và nước sạch. 
 Sau đó, cần đưa trẻ đến cơ sở y tế, có thể là phòng khám ngoại trú HIV gần nhất hoặc 
 Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS để các y bác sỹ đánh giá nguy cơ, tư vấn và xử 
 trí kịp thời. Nếu xác định có nguy cơ, trẻ sẽ được điều trị dự phòng bằng thuốc kháng 
 HIV trong vòng 4 tuần. Việc điều trị dự phòng này cần tiến hành sớm ngay sau khi bị 
 phơi nhiễm hoặc thời gian tối đa là trước 72 giờ. Sau 72 giờ việc điều trị là không có 
 tác dụng dự phòng. Như vậy, chỉ điều trị bằng thuốc kháng HIV khi xác định có nguy 
 cơ và phải dùng thuốc đúng phác đồ và trước 72 giờ. 
 Hiện nay, chủ trương của nước ta là khuyến khích việc đưa trẻ nhiễm HIV đến 
 trường, đảm bảo quyền lợi chính đáng của các em. Tại Khoản 2, Điều 15 của Luật 
 Phòng, chống HIV/AIDS cũng quy định: Cơ sở giáo dục không được có các hành vi Đây là những mục tiêu hết sức tham vọng và rất thách thức. Tuy nhiên nếu đạt được 
những mục tiêu này, không chỉ bảo vệ sức khỏe tính mạng của con người mà còn là sự ổn 
định và phát triển của quốc gia. Người dân Việt Nam và cả cộng đồng quốc tế sẽ cùng 
nhau thực hiện nghiêm túc hành động này để cùng nhau tiến tới kết thúc đại dịch AIDS 
vào năm 2023./. 
 LỄ HƯỞNG ỨNG 
Tháng hành động Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS 
(Ngày 10/12/2018) 
Em LƯU HOÀNG CẨM VÂN VÀ PHAN QUỲNH NHƯhọc sinh lớp 8/1 
 Giáo viên biên soạn và hướng dẫn học sinh: 
 - TTCM: Nguyễn Thị Thúy Lan 
 - NTCM : Nguyễn Trường Duy 

File đính kèm:

  • pdfchuyen_de_thang_hanh_dong_quoc_gia_phong_chong_hivaids_nam_2.pdf