Đề cương ôn tập học kì 1 môn Ngữ văn 9
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề cương ôn tập học kì 1 môn Ngữ văn 9", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập học kì 1 môn Ngữ văn 9
Đề cương ôn tập Ngữ văn 9 – HK1 Chủ đề 1: VĂN BẢN NHẬT DỤNG - Phong cách Hồ Chí Minh - Đấu tranh cho một thế giới hòa bình - Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em I.Kiến thức cần nhớ: 1. Khái niệm văn bản nhật dụng: 2. Tiểu sử tác giả: Lê Anh Trà, Ga – bri – en Gác – xi – a Mác – két: sgk 3. Xuất xứ - Phong cách Hồ Chí Minh: Văn bản là một phần trong bài viết “Phong cách Hồ Chí Minh cái vĩ đại gắn với các giản dị”, trích trong cuốn “Hồ Chí Minh và văn hóa Việt Nam”, xuất bản năm 1990. - Đấu tranh cho một thế giới hòa bình: Trích từ tham luận của Mác – két trong phiên họp của 6 nguyên thủ quốc gia (Ấn Độ, Mê – hi – cô, Thụy Điển, Ác – hen – ti – na, Hi Lạp, Tan – da – ni – a) bàn về việc kêu gọi chấm dứt chạy đua vũ trang, vào tháng 8/1986. - Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em: trích từ Tuyên bố của hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em, họp tại trụ sở Liên hiệp quốc ở New York ngày 30/9/1900. 4. Phương thức biểu đạt và vấn đề nghị luận: -Phong cách Hồ Chí Minh: Phương thức nghị luận. Bàn về nét đẹp trong lối sống giản dị mà thanh cao của Chủ tịch Hồ Chí Minh -Đấu tranh cho một thế giới hòa bình: Phương thức nghị luận. Bàn về việc chống lại nguy cơ chiến tranh hạt nhân để bảo vệ hòa bình thế giới. -Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em: Phương thức nghị luận. Bàn về thực trạng của cuộc sống trẻ em trên thế giới và nhiệm vụ của chúng ta. 5. Giá trị nội dung: sgk II. Luyện tập: Bài tập 1: Đọc câu chuyện sau và trả lời các câu hỏi: BÁT CHÈ SẺ ĐÔI Đồng chí liên lạc đi công văn 10 giờ đêm mới về. Bác gọi mang ra một bát, một thìa con. Rồi Bác đem bát chè đậu đen, đường phèn mà anh em phục vụ vừa mang lên, sẻ một nửa cho đồng chí liên lạc. Đề cương ôn tập Ngữ văn 9 – HK1 Văn bản “Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em” đã nêu lên thực trạng cuộc sống của trẻ em trên thế giới. Vậy ở đất nước chúng ta, xã hội đang có những quan tam như thế nào đối với trẻ em (Liệt kê ít nhất 3 ý.) Chủ đề 2: VĂN HỌC TRUNG ĐẠI -Chuyện người con gái Nam Xương -Hoàng Lê nhất thống chí -Truyện Kiều -Truyện Lục Vân Tiên I.Kiến thức cần nhớ 1. Tiểu sử tác giả: Nguyễn Dữ, Ngô gia văn phái, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu: sgk 2. Xuất xứ: -Chuyện người con gái Nam Xương: là truyện thứ 16 trong tập “Truyền kì mạn lục” gồm 20 truyện, được viết bằng chữ Hán với lối văn xuôi kết hợp với văn biền ngẫu, dựa trên chuyện cổ tích Vợ chàng Trương nhưng Nguyễn Dữ đã hư cấu, sáng tạo thêm yếu tố kì ảo. -Hoàng Lê nhất thống chí: Cuốn tiểu thuyết chương hồi (gồm 17 hồi), viết bằng chữ Hán, tái hiện một giai đoạn lịch sử đầy biến động, ghi chép lại sự thống nhất của vương triều nhà Lê vào thời điểm Tây Sơn diệt Trịnh. Văn bản được học là hồi 14 viết về sự kiện Quang Trung đại phá quân Thanh. -Truyện Kiều: Ra đời vào đầu thế kỉ 19, lúc đầu có tên là Đoạn trường tân thanh, sau đổi thành truyện Kiều. Thuộc thể loại truyện thơ Nôm được viết bằng thể thơ lục bát. -Truyện Lục Vân Tiên: được sáng tác khoảng đầu những năm 50 của thế kỉ XIX, thể loại truyện thơ Nôm, viết theo thể thơ lục bát. 3. Giải thích nhan đề: -Truyền kì mạn lục: Ghi chép tản mạn những chuyện kì lạ được lưu truyền. -Hoàng Lê nhất thống chí: Ghi chép lại sự thống nhất của vương triều nhà Lê -Đoạn trường tân thanh: Tiếng kêu đứt ruột mới 4. Tóm tắt tác phẩm -Chuyện người con gái Nam Xương: Vũ Thị Thiết, quê ở Nam Xương, tính tình thùy mị nết na, tư dung tốt đẹp, được Trương Sinh cưới làm vợ. Dù Trương Sinh có tính đa nghi nhưng nàng giữ khuôn phép, không để có sự thất hòa. Trương Sinh đi lính, nàng ở nhà một mình nuôi con thơ, chăm sóc mẹ chồng chu đáo. Chẳng bao lâu, mẹ chồng mất, nàng lo toan ma chay như cha mẹ đẻ. Trương Sinh trở về, nghe lời con thơ nên nghi ngờ nàng không Đề cương ôn tập Ngữ văn 9 – HK1 + Là chàng trai dũng cảm, anh hùng, đầy nghĩa khí thấy người bị nạn liền ra tay cứu giúp. + Tài ba, giỏi võ nghệ (một mình đánh tan bọn cướp) + Là chàng trai từ tâm, tốt bụng, nhân hậu, hiểu lễ giáo (hết lòng vì việc nghĩa, ân cần hỏi han, trấn tĩnh người bị nạn) +Là chàng trai hào hiệp, chính trực, trọng nghĩa khinh tài, không toan tính lợi danh (làm ơn mà không cần trả ơn) 6. Đối với 3 đoạn thơ: (Chị em Thúy Kiều, Cảnh ngày xuân, Kiều ở lầu Ngưng Bích) trích truyện Kiều của Nguyễn Du, xoáy vào những kiến thức sau: - Vị trí của mỗi đoạn thơ (thuộc phần nào của Truyện Kiều) - Bố cục của mỗi đoạn thơ (Chia thành những đoạn thơ nhỏ nào? Nội dung chính của mỗi đoạn thơ nhỏ là gì?) - Đặc trưng nghệ thuật trong mỗi đoạn thơ. - Giá trị nội dung của mỗi đoạn thơ. - Cảm nhận, phân tích được mỗi đoạn thơ II. Luyện tập Bài tập 1: “Vua Quang Trung lại truyền lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền ba tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là hai mươi bức. Đoạn kén hạng lính mạnh khỏe, cử hai mươi người khênh một bức, lưng giắt dao ngắnVua Quang Trung cưỡi voi đi đốc thúc” (“Hoàng Lê nhất thống chí” – Ngô Gia văn phái) Đoạn trích trên đã nêu lên phẩm chất gì ở nhân vật Quang Trung? Bài tập 2: Đọc đoạn trích sau: “- Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị (...) Các ngươi đều là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực để dựng nên công lớn. ( “Hoàng Lê nhất thống chí” – Ngô Gia văn phái) 1. Xác định người nói, người nghe trong đoạn trích trên. 2. Nhà vua nói: “Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị.” nhằm khẳng định điều gì? Em hãy liên hệ một hoặc hai tác phẩm đã học có nội dung tương tự. Bài tập 3: Đoạn trích dưới đây đã nêu lên phẩm chất gì ở nhân vật Vũ Nương? “Về đến nhà, chàng la um lên cho hả giận. Vợ chàng khóc mà rằng: -Thiếp vốn là con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu. Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót.” ( “Chuyện người con gái Nam Xương” -Nguyễn Dữ) Bài tập 4: Đề cương ôn tập Ngữ văn 9 – HK1 Chủ đề 3: THƠ HIỆN ĐẠI -Đồng chí -Bài thơ về tiểu đội xe không kính -Đoàn thuyền đánh cá -Bếp lửa -Ánh trăng I. Kiến thức cần nhớ: 1. Tiểu sử tác giả: Chính Hữu, Phạm Tiến Duật, Huy Cận, Bằng Việt, Nguyễn Duy: sgk 2. Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác: -Đồng chí: được sáng tác vào đầu năm 1948, sau khi tác giả cùng đồng đội tham gia chiến dịch Việt Bắc (1947) -Bài thơ về tiểu đội xe không kính: được sáng tác vào năm 1969 khi cuộc chống Mĩ đang đi vào giai đoạn ác liệt nhất, được in trong tập thơ “Vầng trăng quầng lửa” -Đoàn thuyền đánh cá: được sáng tác năm 1958 khi tác giả có chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Quảng Ninh, được in trong tập “Trời mỗi ngày lại sáng”. -Bếp lửa: được sáng tac năm 1963, khi tác giả đang sống và học tập ngành Luật tại nước ngoài (Liên Xô) -Ánh trăng: được viết năm 1978, khi hòa bình được lập lại 3 năm. Bài thơ được in trong tập thơ cùng tên. 3. Ý nghĩa nhan đề: -Đồng chí: có nghĩa là cùng chí hướng, lí tưởng cao đẹp. Đây cũng là cách xưng hô của những người cùng trong một đoàn thể cách mạng. Đặt nhan đề bài thơ là “Đồng chí”, Chính Hữu muốn nhấn mạnh tình đồng chí chính là bản chất cách mạng của tình đồng đội gắn bó keo sơn và thể hiện sâu sắc tình đồng đội. -Bài thơ về tiểu đội xe không kính: Mươn hình ảnh những chiếc xe không kính chắn gió và hình ảnh người lính lái xe, Phạm Tiến Duật kết hợp với hai chữ “bài thơ”, không chỉ nêu lên hiện thực khốc liệt của chiến tranh mà nhà thơ còn muốn nói về chất thơ của hiện thực ấy, chất thơ của tuổi trẻ thời kì chống Mĩ: dũng cảm, vượt lên gian khổ, nguy hiểm vì lí tưởng cao đẹp. -Bếp lửa: “Bếp lửa” – một hình ảnh quen thuộc với mỗi gia đình Việt Nam, còn là biểu tượng của tình cảm đẹp đẽ và thiêng liêng về người bà. Lấy hình ảnh này đặt làm nhan đề cho bài thơ, Bằng Việt gợi cho chúng ta liên tưởng đến cuộc đời vất vả của người bà cùng tình yêu thương của bà dành cho cháu. Qua đó, ông muốn ca ngợi tình cảm gia đình (bà – cháu) là thiêng liêng đối với con người. Đề cương ôn tập Ngữ văn 9 – HK1 Chủ đề 4: TRUYỆN HIỆN ĐẠI -Làng -Lặng lẽ Sa Pa -Chiếc lược ngà I.Kiến thức cần nhớ: 1. Tiểu sử tác giả: Kim Lân, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Quang Sáng. 2. Hoàn cảnh sáng tác: -Làng: được viết vào thời kì đầu của kháng chiến chống Pháp (1948) -Lặng lẽ Sa Pa: là kết quả của chuyến đi lên Lào Cai trong mùa hè năm 1970 của tác giả, được rút ra từ tập “Giữa trong xanh” -Chiếc lược ngà: được viết năm 1966 khi tác giả đang hoạt động ở chiến trường Nam Bộ. 3. Ý nghĩa nhan đề - Làng: Nhà văn Kim Lân đặt nhan đề “Làng” mà không phải là “làng chợ Dầu” để khái quát một tình cảm bao trùm, phổ biến của con người Việt Nam trong thời kì đầu của kháng chiến chống Pháp thông qua nhân vật ông Hai. Đó là tình yêu làng gắn liền với tình yêu nước sâu sắc. - Lặng lẽ Sa Pa: Lấy nhan đề là “Lặng lẽ Sa Pa” nhưng Nguyễn Thành Long lại gửi gắm một ý nghĩa khác: Sa Pa không hề lặng lẽ, bởi sau vẻ đẹp và không khí yên ả của Sa Pa ấy chính là cuộc sống sôi nổi của những con người đầy trách nhiệm, có lí tưởng và lòng nhiệt huyết luôn muốn cống hiến hết sức mình cho công việc và cuộc đời mà không đòi hỏi gì cho riêng mình. - Chiếc lược ngà: Nguyễn Quang Sáng đặt nhan đề “Chiếc lược ngà” vì chiếc lược làm bằng ngà voi là hình ảnh xuyên suốt, biểu hiện cho tình yêu con sâu nặng của ông Sáu đồng thời ca ngợi tình cảm cha con thiêng liêng mãnh liệt trong thời chiến tranh. 4. Tóm tắt tác phẩm, đoạn trích truyện - Làng: Ở nơi tản cư, ông Hai luôn nhớ về làng của mình. Hằng ngày ông thường ra phòng thông tin tuyên truyền nghe đọc báo để vui cùng tin chiến thắng. Hôm ấy, như thường lệ, vừa ra khỏi phòng thông tin ông gặp một đám người ở Gia Lâm vừa tản cư lên. Qua họ ông biết tin làng chợ Dầu của mình theo giặc. Ông đành chấp nhận một cách đau khổ. Ông ở liền trong nhà mấy ngày không dám ra gặp ai. Ông sợ nhất là mụ chủ nhà sẽ đuổi gia đình mình đi. Tâm sự không biết chia sẻ cùng ai, ông đành thổ lộ với đứa con nhỏ như khẳng định lòng yêu nước của mình. Rồi tin làng chợ Dầu theo giặc được cải chính. Niềm vui trở lại với ông Hai. Ông tiếp tục nói về làng, nói về cuộc chiến đấu giữ nước giữ làng như chính ông từng tham gia. -Lặng lẽ Sa Pa: Trên chuyến xe từ Lào Cai lên Sa Pa, qua sự giới thiệu của bác lái xe, ông họa sĩ già và cô kĩ sư nông nghiệp làm quen với Anh thanh niên 26 tuổi đang công tác một mình trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m. Anh mời họ lên thăm nhà và dùng nước. Anh thanh Đề cương ôn tập Ngữ văn 9 – HK1 + yêu nghề, yêu khoa học và có trách nhiệm cao với công việc; có súy nghĩ đúng đắn về công việc; thấy công việc của mình có ý nghĩa, có ích cho mọi người và cuộc sống. + biết tổ chức, sắp xếp công việc để tạo niềm vui cho cuộc sống của mình + có tấm lòng chân thành, quan tâm đến người khác, cởi mở, hiếu khách. + Có đức tính kiêm tốn. Hoặc giáo viên có thể khái quát ngắn gọn hơn như sau: + Là người sống có lý tưởng +Yêu nghề, có tác phong khoa học +Cởi mở, hiếu khách, quan tâm đến mọi người + Có tính khiêm tốn -Ông Sáu: + là người cha tội nghiệp, đau khổ khi con gái không nhận cha. + hạnh phúc tột cùng khi nghe tiếng “ba” vang dài + yêu con, giữ lời hứa với con gái nên làm chiếc lược tỉ mỉ, cẩn trọng + nhớ con, hối hận vì đánh con. + tình yêu con sâu nặng (trong phút hi sinh) + yêu nước, hi sinh tình cảm gia đình phục vụ cho tình cảm Tổ quốc. Hoặc giáo viên có thể khái quát ngắn gọn hơn như sau: + Là người cha vô cùng thương con + Yêu nước, hy sinh hạnh phúc gia đình để phục vụ Tổ quốc -Bé Thu + là cô bé có hành động hết sức ngây thơ. + giàu cá tính, ngang ngạnh, bướng bỉnh, cứng cỏi; thái độ quyết liệt. + hối hận về hành động của mình khi được bà ngoại giải thích về vết thẹo của ba. + tình yêu thương cha bùng phát mạnh mẽ (trong tiếng “ba” vang dài, kìm nén trong tám năm xa cách, trong hành động cuống quýt, hôn lên vết thẹo, không cho ba đi.) 7. Giá trị nội dung: sgk II. Luyện tập Bài 1: Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi bên dưới: “ Ông Hai quay phắt lại lắp bắp hỏi: - Nó... Nó vào làng chợ Dầu hở bác? Thế ta giết được bao nhiêu thằng? Người đàn bà ẵm con cong môi lên đỏng đảnh: - Có giết được thằng nào đâu. Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây còn giết gì nữa! Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được. Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt một cái gí vướng ở cổ, ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi: - Liệu có thật không hở bác? Hay là chỉ lại...[...] Ông Hai trả tiền nước, đứng dậy, chèm chẹp miệng, cười nhạt một tiếng, vươn vai nói to: - Hà, nắng gớm, về nào...” ( Làng – Kim Lân)
File đính kèm:
de_cuong_on_tap_hoc_ki_1_mon_ngu_van_9.docx

