Đề cương ôn tập học kì I môn Ngữ văn 8 - Năm học 2017-2018 - Trường THCS Tân Bình

pdf 18 trang lynguyen 04/03/2026 20
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn tập học kì I môn Ngữ văn 8 - Năm học 2017-2018 - Trường THCS Tân Bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập học kì I môn Ngữ văn 8 - Năm học 2017-2018 - Trường THCS Tân Bình

Đề cương ôn tập học kì I môn Ngữ văn 8 - Năm học 2017-2018 - Trường THCS Tân Bình
 TRƢỜNG THCS TÂN BÌNH 
 ĐỀ CƢƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 8 HỌC KÌ I 
 NĂM HỌC 2017-2018 
 I. PHẦN VĂN BẢN 
 1. Nếu là văn bản văn xuôi: HS cần: 
 - Nắm chắc đặc trưng thể loại của văn bản truyện kí hiện đại. 
 - Biết tóm tắt nội dung văn bản. 
 - Viết văn bản ngắn cảm thụ về nội dung, về phẩm chất, một đặc điểm của nhân 
 vật,trong văn bản. 
 2. Nếu là văn bản thơ: HS cần: 
 - Học thuộc lòng. 
 - Nắm được đại ý, nội dung của từng khổ thơ, những nét đặc sắc về nghệ thuật. 
 Lưu ý: 
 - Nếu đề thi lấy văn bản ngoài sách giáo khoa, HS cần đọc kĩ đề để hiểu và cảm thụ 
 văn bản. 
 - HS cần trả lời câu hỏi có đầu có cuối, lấy nội dung câu hỏi làm lời dẫn của câu trả 
 lời. 
 II. PHẦN TIẾNG VIỆT 
 1. Trƣờng từ vựng là tập hợp của những từ có ít nhất một nét chung về nghĩa. 
 Lưu ý: 
 - Một trường từ vựng có thể bao gồm nhiều trường từ vựng nhỏ hơn. 
 - Một trường từ vựng có thể bao gồm những trường từ khác biệt nhau về từ loại. 
 - Do hiện tượng nhiều nghĩa, một từ có thể thuộc nhiều trường từ vựng khác nhau. 
 2. Từ tƣợng hình, từ tƣợng thanh. 
 a. Khái niệm: 
 - Từ tượng hình là từ gợi tả hình ảnh, âm thanh cụ thể, sinh động, có giá trị biểu cảm 
 cao. 
 - Từ tượng thanh là từ mô phỏng âm thanh tự nhiên của con người. 
 b. Tác dụng: 
 1 
 c. Sử dụng: 
- Khi nói hoặc viết cần chú ý sử dụng tình thái từ phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp 
 (quan hệ tuooit tác, thức bậc xã hội, tình cảm,) 
6. Nói quá. 
a. Khái niệm: Nói quá là biện pháp tu từ phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự 
 vật, hiện tượng được miêu tả. 
b. Tác dụng: 
- Nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm. 
7. Nói giảm, nói tránh. 
a. Khái niệm: Là biện pháp tu từ dùng cách diễn đạt uyển chuyển, tế nhị. 
b. Tác dụng: Tránh gây cảm giác đau buồn, ghê sợ, nặng nề, tránh thô tục, thiếu lịch sự. 
8. Câu ghép. 
a. Khái niệm: 
Câu ghép là những câu do hai hoặc nhiều cụm C-V không bao chứa nhau tạo thành. Mỗi 
cụm C-V là một câu. 
b. Cách nối các về câu: Có 2 cách nối các vế câu: 
- Dùng từ có tác dụng nối: 
+ Nối bằng một quan hệ từ. 
+ Nối bằng một cặp quan hệ từ. 
Nối bằng một cặp phó từ, chỉ từ, đại từ thường đi đôi với nhau (cặp từ hô ứng). 
- Không dùng từ nối: Trong trường hợp này, giữa các về câu cần có dấu phẩy, dấu 
 chấm, dấu hai chấm. 
9. Dấu ngoặc đơn và dấu hai chấm. 
a. Dấu ngoặc đơn dùng để đánh dấu phần chú thích (giải thích, thuyết minh, bổ sung 
 thêm). 
b. Dấu hai chấm dùng để đánh dấu ( báo trước ) phần giải thích, thuyết minh, lời dẫn 
 trực tiếp, lời đối thoại. 
10. Dấu ngoặc kép: 
- Dấu ngoặc kép dùng để: 
+ Đánh dấu từ ngữ, câu, đoạn dẫn trực tiếp. 
+ Đánh dấu từ được hiểu theo nghĩa đặc biệt hay có hàm ý mỉa mai. 
 3 
 * Dàn ý chi tiết : 
1.Truyện ngắn - Lão Hạc 
A.Mở bài: 
- Cùng với Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao là một cái tên không thể thiếu khi nhắc 
tới những nhà văn hiện thực nhân đạo. Các sáng tác của ông vừa rất mực chân thực, vừa có 
một ý vị triết lí mang ý nghĩa nhân bản sâu sắc. Truyện ngắn “Lão Hạc” là một trong những 
tác phấm tiêu biểu như thế! Truyện đã thể hiện một cách chân thực, cảm động số phận 
người nông dân trong xã hội cũ và phẩm chất cao quý tiềm tàng của họ. 
B. Thân bài: 
* Khái quát ( Dẫn dắt vào bài): 
- Xuất hiện lần đầu trên tuần báo “Tiểu thuyết thứ bảy” năm 1943, “Lão Hạc” của Nam Cao 
được đánh giá là một trong những truyện ngắn xuất sắc viết tình cảnh của người nông dân 
trước Cách mạng. 
* Nhân vật Lão Hạc( Tùy vào yêu cầu của đề để nhấn mạnh nội dung cần làm ) 
- Lão Hạc là một lão nông dân nghèo nhưng có nhiều phẩm chất tốt đẹp, đáng quý. 
a,Lão Hạc có một tấm lòng vị tha, nhân hậu: 
-Ở lão có một tấm lòng vị tha, nhân hậu.Tình cảm của lão với "cậu Vàng" được tác giả thể 
hiện thật cảm động. Lão gọi nó là "cậu Vàng" như “một bà hiếm hoi gọi đứa con cầu tự". 
Lão bắt rận, cho nó ăn cơm trong một cái bát như nhà giàu.Lão ăn gì cũng không quên phần 
nó, gắp cho nó một miếng; lão ăn bao nhiêu, nó cũng ăn như thế, thậm chí còn hơn phần 
lãoLão coi nó như một người bạn,ngày ngày lão tâm sự, trò chuyện với nó như thể nó 
cũng là con người.Tình thế cùng đường khiến lão phải bán nó thì trong lão diễn ra sự dằn 
vặt, đau khổ tột độ. Lão kể cho ông giáo nghe về việc bán "cậu Vàng" với tâm trạng vô cùng 
đau đớn: "lão cười như mếu và đôi mắt ầng ậng nước". Đến nỗi ông giáo thương quá, 
"muốn ôm chầm lấy lão mà òa lên khóc".Khi nhắc đến việc "cậu Vàng" bị lừa rồi bị bắt, lão 
Hạc không nén nổi đau dớn cứ dội lên "Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại 
với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém 
của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc...". Lão Hạc đau đớn đến thế không phải chỉ vì quá 
thương con chó mà còn vì không thể tha thứ cho mình vì đã trót lừa một con chó. Ông lão 
quá lương thiện ấy cảm thấy lương tâm đau nhói khi nhận thấy trong đôi mắt con chó có cái 
nhìn trách móc. Phải có trái tim vô cùng nhân hậu, trong sạch thì mới bị giày vò lương tâm 
đến thế, mới cảm thấy có lỗi với một con chó như vậy! 
b, Tình yêu thương con sâu sắc ( dẫn chứng ) 
Đối với cậu Vàng, lão yêu quí như vậy, thì đối với anh con trai của lão, thì tình cảm ấy còn 
được nhân lên gấp vạn lần. Chỉ vì nhà nghèo, không cưới được vợ cho con, làm con uất chí, 
 5 
 nhưng hóa ra, lão ăn bả chó để tử tự, để giữ vẹn nguyên tấm lòng trong sáng của lão. Lão ăn 
bả chó, lão chết như một con chó, vật vã, quằn quại trong đau đớn, để chuộc tội với cậu 
Vàng. Lão chết cũng là để không bị cuộc sống dồn đẩy, bị sa hóa biến chất như Binh Tư, 
hay Chí Phèo.Cái chết của lão cũng chính là sự tự trọng của lão với con lão. Lão sống mà 
phải dựa vào tiền của con thì thà lão chết còn hơn.Lão Hạc có một tấm lòng thật đáng trân 
trọng – lòng tự trọng của lão nông nghèo nhưng trong sạch. Lão chọn “chết trong còn hơn 
sống đục” khi bị dồn vào đường cùng. 
C. Kết bài 
- Cảm thương trước sô phận đau khổ, cuộc đời bế tắc của những người nông dân trong xã 
hội cũ. 
 - Trân trọng, đề cao vẻ đẹp tâm hồn của họ. 
2. TRONG LÒNG MẸ 
Mở bài: Hs tự làm 
 Thân bài: Dẫn chứng về lòng yêu thƣơng mẹ của bé Hồng 
 Chú bé Hồng sinh ra nhiều cơ cực: cha mất vì nghiện, mẹ đi tha hương cầu thực bỏ 
lại hai anh em Hồng ở lại trong sự ghẻ lạnh của họ hàng, nhưng không vì thế mà chú mất đi 
tình yêu thương mãnh liệt với mẹ. Tình cảm chân thành ấy cứ tự nhiên lớn dần bởi khát 
khao yêu thương chứ không phải vật chất "Non một năm ròng, mẹ tôi không gửi cho tôi lấy 
một lá thư, nhắn người hỏi thăm tôi lấy một lời và gửi cho tôi lấy một đồng quà". Khi bị bà 
cô gieo rắc vào đầu những ý nghĩ tanh bẩn về mẹ, chú bé Hồng vẫn không giận mẹ, luôn tin 
mẹ và hiểu mẹ. Chú chỉ giận những cổ tục xấu xa đã đầy đọa mẹ con sớm chia ly "Giá như 
những cổ tục đã đày đọa mẹ là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, tôi quyết vồ lấy mà 
nhai, mà cắn cho kỳ nát vụn mới thôi". Tình yêu thương không gì ngăn cản ấy còn thể hiện 
khi Hồng gặp mẹ. Thoáng thấy người ngồi trên xe giống mẹ, chú đã chạy theo gọi bối rối, 
chứng tỏ mẹ luôn nằm trong tâm trí chú. Khi được ngồi trên xe cùng mẹ, chú đã òa khóc. 
Đó là tiếng khóc dỗi hờn mà xúc động, tủi thân mà hạnh phúc. Chú thấy mẹ "đẹp như thuở 
còn sung túc", chú tận hưởng cái ấm áp của tình mẹ, quên đi những cay độc tủi hờn người 
cô gieo rắc để chìm trong dòng cảm xúc mơn man dào dạt. Thực sự, nhà văn Nguyên Hồng 
đã viết lên một bài ca không quên - một tình yêu thương bất tử, vĩ đại, thiêng liêng và ấm áp 
mà chú bé Hồng chỉ dành riêng cho người mẹ bất hạnh của mình. 
 Kết bài: Hs tự làm 
 7 
 queo trên mặt đất”. Còn tên người nhà lí trưởng cũng bị chị Dậu “túm tóc, lẳng cho cho một 
cái, ngã nhào ra thềm”. 
 Có thể thấy sự chuyển biến tâm lý và hành động rất mạnh mẽ ở nhân vật trong tình 
cảnh này. Từ một người phụ nữ nông thôn hiền lương, nghèo đói, luôn sợ sệt lũ tay sai thúc 
thuế, chị đã dám phản kháng chống lại uy quyền. Đến lúc này thì nỗi căm phẫn đã lên đến 
đỉnh điểm, nỗi sợ hãi cố hữu của kẻ bị áp bức phút chốc tiêu tan, thay vào đó là một bản lĩnh 
quật khởi rất cứng cỏi: “Thà ngồi tù. Để cho chúng nó làm tình làm tội mãi thế, tôi không 
chịu được”.Tức nước thì vỡ bỡ, có áp bức thì tất có đấu tranh là một quy luật tất yếu. Tuy 
vậy, sự đấu tranh của chị Dậu chỉ là hành động mang tính bộc phát chứ không có tính định 
hướng, cũng chưa có tính tập thể cho nên cuối cùng một mình chị vẫn không thể nào chống 
đỡ lại được cả một chế độ phong kiến thối nát, độc ác, chuyên quyền. Chị vẫn phải vùng 
chạy, lao vào màn đêm tăm tối như chính của cuộc đời của mình. 
 Đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” được coi là một trong những đoạn trích hay nhất của 
tác phẩm “Tắt đèn”. Đoạn trích vừa làm nổi bật vẻ đẹp của một người phụ nữ yêu chồng 
thương con, giàu đức hy sinh và sức phản kháng mãnh liệt, vừa thông qua đó để lên án một 
xã hội cường quyền, áp bức bất công đẩy người nông dân thấp cổ bé họng vào đường cùng, 
buộc họ phải vùng lên tranh đấuỖNG 
 5. TÔI ĐI HỌC – NGUYÊN HỒNG 
 Dẫn chứng cảm xúc của nhân vật “ tôi” trong ngày đầu đi học 
 Tôi đi học được bố cục theo dòng hồi tưởng của nhân vật "tôi” về những kỉ niệm 
buổi tựu trường. Tiết trời vào những ngày cuối thu, hình ảnh các em nhỏ đến trường gợi cho 
nhân vật “tôi” nhớ lại ngày đầu tiên đi học. "Tôi" nhớ lại con đường cùng mẹ đến trường, 
cảnh vật trên đường vốn rất quen nhưng lần này tự nhiên thấy lạ, “tôi” cảm thấy có sự thay 
đổi lớn trong lòng mình. Đó là cảm giác trang trọng và đứng đắn trong chiếc áo vải dù đen 
dài, cùng mấy quyển vở mới trên tay. Bàn tay cẩn thận, nâng niu mấy quyển vở, lúng túng 
muốn thử sức nên xin mẹ được cầm cả bút, thước như các bạn khác. Khi nhìn thấy ngôi 
trường ngày khai giảng, "tôi" thấy ngạc nhiên vì sân trường hôm nay dày đặc cả người, ai 
cũng ăn mặc sạch sẽ, gương mặt tươi vui và sáng sủa. Ngôi trường vừa xinh xắn vừa oai 
nghiêm khác thường, “tôi” cảm thấy mình bé nhỏ, do đó lo sợ vẩn vơ. Đặc biệt, lúc ngồi vào 
chỗ của mình trong giờ học đầu tiên, nghe thày giáo gọi tên, bắt đầu học bài học thứ nhất,... 
nhân vật chính của thiên truyện vừathấy hồi hộp, ngỡ ngàng lại vừa tự tin, sung sướng. 
 9 
 Anh mỉm cười và nói với nó: 
 – Đến đây chú sẽ mua cho cháu. 
 Anh liền mua cho cô bé và đặt một bó hồng gửi cho mẹ anh. Xong xuôi, anh hỏi cô 
bé có cần đi nhờ xe về nhà không. Nó vui mừng nhìn anh trả lời: 
 – Dạ, chú cho cháu đi nhờ đến nhà mẹ cháu. 
 Nó chỉ đường cho anh lái xe đến một nghĩa trang, nơi có phần mộ vừa mới đắp. Nó 
chỉ vào ngôi mộ và nói: 
 – Đây là nhà của mẹ cháu. 
 Nói xong, nó ân cần đặt bông hoa hồng lên mộ. Tức thì anh quay lại tiệm bán hoa 
hủy bỏ dịch vụ gửi hoa và mua một bó hoa hồng thật đẹp. Suốt đêm đó anh đã lái xe một 
mạch 300km về nhà để trao tận tay mẹ bó hoa. 
 (Quà tặng cuộc sống) 
 Câu 1: Nội dung câu chuyện trên là gì? ( 1 điểm) 
 Câu 2: Thông điệp mà văn bản muốn gửi lại cho chúng ta là gì? ( 1 điểm) 
 Câu 3: Các từ “ khóc, mỉm cười, vui mừng” thuộc trường từ vựng nào? ( 1 điểm) 
 PHẦN II: 7 ĐIỂM 
 Câu 1: Đoạn trích “ Trong lòng mẹ” thuộc tác phẩm cùng tên của nhà văn Nguyên 
Hồng là bài ca về tình mẫu tử thiêng liêng, bất diệt. Em hãy viết một văn bản ngắn làm rõ 
điều đó. ( 3 điểm). 
 Câu 2: Em hãy thuyết minh về một truyện ngắn đã học. ( 4 điểm). 
 ĐỀ THAM KHẢO 2 
 Phần I: (3đ) 
 Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi bên dưới: 
 11 

File đính kèm:

  • pdfde_cuong_on_tap_hoc_ki_i_mon_ngu_van_8_nam_hoc_2017_2018_tru.pdf