Đề cương ôn tập học kì I môn Ngữ văn 8 - Năm học 2020-2021 - Trường THCS Tân Bình
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn tập học kì I môn Ngữ văn 8 - Năm học 2020-2021 - Trường THCS Tân Bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập học kì I môn Ngữ văn 8 - Năm học 2020-2021 - Trường THCS Tân Bình
UBND QUẬN TÂN BÌNH TRƢỜNG THCS TÂN BÌNH ĐỀ CƢƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 8 HỌC KÌ I NĂM HỌC 2020-2021 I. PHẦN VĂN BẢN 1. Văn bản văn xuôi: HS cần: - Nắm chắc đặc trưng thể loại của văn bản truyện kí hiện đại. - Biết tóm tắt nội dung văn bản. - Viết văn đoạn văn cảm thụ về nội dung, một chi tiết, một đặc điểm , phẩm chất của nhân vật, hoặc viết theo câu chủ đề có sẵntrong văn bản. 2. Văn bản thơ: HS cần: - Học thuộc lòng. - Nắm được đại ý, nội dung của từng khổ thơ, những nét đặc sắc về nghệ thuật. - Cần trả lời câu hỏi có đầu có cuối, lấy nội dung câu hỏi làm lời dẫn của câu trả lời. II. PHẦN TIẾNG VIỆT 1. Trƣờng từ vựng là tập hợp của những từ có ít nhất một nét chung về nghĩa. Lưu ý: - Một trường từ vựng có thể bao gồm nhiều trường từ vựng nhỏ hơn. - Một trường từ vựng có thể bao gồm những trường từ khác biệt nhau về từ loại. - Do hiện tượng nhiều nghĩa, một từ có thể thuộc nhiều trường từ vựng khác nhau. 2. Từ tƣợng hình, từ tƣợng thanh. a. Khái niệm: - Từ tượng hình là từ gợi tả hình ảnh, âm thanh cụ thể, sinh động, có giá trị biểu cảm cao. - Từ tượng thanh là từ mô phỏng âm thanh tự nhiên của con người. b. Tác dụng: 1 - Tình thái từ cầu khiến: đi, nào, với, - Tình thái từ cảm thán: thay, sao, - Tình thái từ biểu thị sắc thái tình cảm: ạ, nhé, cơ, mà, c. Sử dụng: - Khi nói hoặc viết cần chú ý sử dụng tình thái từ phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp (quan hệ tuổi tác, thức bậc xã hội, tình cảm,) 6. Nói quá. a. Khái niệm: Nói quá là biện pháp tu từ phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả. b. Tác dụng: - Nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm. 7. Nói giảm, nói tránh. a. Khái niệm: Là biện pháp tu từ dùng cách diễn đạt uyển chuyển, tế nhị. b. Tác dụng: Tránh gây cảm giác đau buồn, ghê sợ, nặng nề, tránh thô tục, thiếu lịch sự. 8. Câu ghép. a. Khái niệm: Câu ghép là những câu do hai hoặc nhiều cụm C-V không bao chứa nhau tạo thành. Mỗi cụm C-V là một câu. b. Cách nối các về câu: Có 2 cách nối các vế câu: - Dùng từ có tác dụng nối: + Nối bằng một quan hệ từ. + Nối bằng một cặp quan hệ từ. Nối bằng một cặp phó từ, chỉ từ, đại từ thường đi đôi với nhau (cặp từ hô ứng). - Không dùng từ nối: Trong trường hợp này, giữa các về câu cần có dấu phẩy, dấu chấm, dấu hai chấm. 9. Dấu ngoặc đơn và dấu hai chấm. 3 -Thân bài: Kể lại diễn biến câu chuyện theo trình tự nhất định ( Trong khi kể, kết hợp với yếu tố miêu tả và biểu cảm ) -Kết bài: Kết cục và cảm nghĩ của người trong cuộc 2. Văn thuyết minh Mở bài: Giới thiệu đối tượng thuyết minh -Thân bài: Thuyết minh các nội dung + Nêu nguồn gốc (xuất xứ), các loại + Trình bày cấu tạo ( đặc điểm ) + Công dụng +Cách bảo quản -Kết bài: Trình bày suy nghĩ của người viết về đối tượng. IV. MỘT SỐ DẪN CHỨNG CHO VIỆC VIẾT ĐOẠN VĂN 1.Truyện ngắn - Lão Hạc - Cùng với Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao là một cái tên không thể thiếu khi nhắc tới những nhà văn hiện thực nhân đạo. Các sáng tác của ông vừa rất mực chân thực, vừa có một ý vị triết lí mang ý nghĩa nhân bản sâu sắc. Truyện ngắn “Lão Hạc” là một trong những tác phấm tiêu biểu như thế! Truyện đã thể hiện một cách chân thực, cảm động số phận người nông dân trong xã hội cũ và phẩm chất cao quý tiềm tàng của họ. - Xuất hiện lần đầu trên tuần báo “Tiểu thuyết thứ bảy” năm 1943, “Lão Hạc” của Nam Cao được đánh giá là một trong những truyện ngắn xuất sắc viết tình cảnh của người nông dân trước Cách mạng. * Nhân vật Lão Hạc( Tùy vào yêu cầu của đề để nhấn mạnh nội dung cần làm ) - Lão Hạc là một lão nông dân nghèo nhưng có nhiều phẩm chất tốt đẹp, đáng quý. a. Lão Hạc có một tấm lòng vị tha, nhân hậu: -Ở lão có một tấm lòng vị tha, nhân hậu.Tình cảm của lão với "cậu Vàng" được tác giả thể hiện thật cảm động. Lão gọi nó là "cậu Vàng" như “một bà hiếm hoi gọi đứa con cầu tự". Lão bắt rận, cho nó ăn cơm trong một cái bát như nhà giàu.Lão ăn gì cũng không quên phần nó, gắp cho nó một miếng; lão ăn bao nhiêu, nó cũng ăn như thế, thậm chí còn hơn phần lãoLão coi nó như một người bạn,ngày ngày lão tâm sự, trò chuyện với nó như thể nó cũng là con người.Tình thế cùng đường khiến lão phải bán nó thì trong lão 5 hiếm thấy. Tình yêu con của lão Hạc thật đặc biệt. Không ồn ào, sôi nổi, không thể hiện qua hành động hay lời nói, lão lặng lẽ yêu con trong tâm tưởng, mọi hành động của con lão đều cho là do lão. Là do lão đẩy con tới những hành động ấy rồi tự dằn vặt mình, tự gánh lấy những suy nghĩ, hành động để chuộc lại lỗi lầm. Quả thật, tình yêu thương con của lão khiến chúng thật vô cùng cảm động. c. Lão Hạc mang một tấm lòng tự trong cao cả. Lão tự trọng từ với một con chó, với con trai lão, với bà con hàng xóm, với ông giáo và với cả chính bản thân mình.Khi bán con chó, lão đau khổ, vì lão “bằng này tuổi đầu mà còn trót lừa một con chó”. Lão nhớ ảnh mắt của cậu Vàng, mà theo như lời lão là một ánh mắt đầy trách móc, mắng lão tệ hại: “A!Lão già tệ lắm!Tôi ăn ở với lão thế mà lão đối xử với tôi thế này à”. Ánh nhìn đó làm lão ám ảnh và day dứt không nguôi. Lão từ chối mọi sự giúp đỡ của ông giáo, lão lại chuẩn bị sẵn tiền làm ma cho bản thân, gửi ông giáo, để khi lão có việc thì ông giáo đưa ra, coi như là của lão có chút ít, còn lại thì nhờ bà con hàng xóm cả. Lão làm vậy để không phiền lụy tới ai. Từ đó, lão bòn vườn, mò cua,ốc, trai ăn để sống qua ngày, thà chết chứ không chịu mắc nợ ai. Có lẽ hành động bán cậu Vàng của lão chính là bước chuẩn bị cho cái chết của lão. Lão xin Binh Tư ít bả chó với lý do bắt cho nhà khác – một lý do làm Binh Tư tự nghĩ lão giả bộ hiền lành thế nhưng cũng ghê ra phết, một lý do làm ông giáo hiểu lầm lão, hiểu lầm một con người đã “khóc vì trót lừa một con chó, một con người nhịn ăn để có tiền làm ma”.Vậy nhưng hóa ra, lão ăn bả chó để tử tự, để giữ vẹn nguyên tấm lòng trong sáng của lão. Lão ăn bả chó, lão chết như một con chó, vật vã, quằn quại trong đau đớn, để chuộc tội với cậu Vàng. Lão chết cũng là để không bị cuộc sống dồn đẩy, bị tha hóa biến chất như Binh Tư, hay Chí Phèo.Cái chết của lão cũng chính là sự tự trọng của lão với con lão. Lão sống mà phải dựa vào tiền của con thì thà lão chết còn hơn.Lão Hạc có một tấm lòng thật đáng trân trọng – lòng tự trọng của lão nông nghèo nhưng trong sạch. Lão chọn “chết trong còn hơn sống đục” khi bị dồn vào đường cùng. - Cảm thương trước sô phận đau khổ, cuộc đời bế tắc của những người nông dân trong xã hội cũ. - Trân trọng, đề cao vẻ đẹp tâm hồn của họ. 2.TỨC NƢỚC VỠ BỜ *Dẫn chứng về tình yêu thƣơng chồng con của Chị Dậu 7 luôn sợ sệt lũ tay sai thúc thuế, chị đã dám phản kháng chống lại uy quyền. Đến lúc này thì nỗi căm phẫn đã lên đến đỉnh điểm, nỗi sợ hãi cố hữu của kẻ bị áp bức phút chốc tiêu tan, thay vào đó là một bản lĩnh quật khởi rất cứng cỏi: “Thà ngồi tù. Để cho chúng nó làm tình làm tội mãi thế, tôi không chịu được”.Tức nước thì vỡ bỡ, có áp bức thì tất có đấu tranh là một quy luật tất yếu. Tuy vậy, sự đấu tranh của chị Dậu chỉ là hành động mang tính bộc phát chứ không có tính định hướng, cũng chưa có tính tập thể cho nên cuối cùng một mình chị vẫn không thể nào chống đỡ lại được cả một chế độ phong kiến thối nát, độc ác, chuyên quyền. Chị vẫn phải vùng chạy, lao vào màn đêm tăm tối như chính của cuộc đời V.MỘT SỐ ĐỀ THAM KHẢO ĐỀ THAM KHẢO 1 PHẦN I: (3 điểm) Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi: Bạn có bao giờ bực bội khi cha mẹ lúc nào cũng nhắc mình hàng tỉ lần phải đi ngủ sớm? Bạn có bao giờ khó chịu khi cha mẹ lúc nào cũng dặn ra đường phải đi xe cộ cẩn thận, la mắng khi một mình về trễ giữa đêm? Bạn thấy đấy, khi chính bạn còn không thèm lo cho bạn, thì cha mẹ vẫn kiên trì. Hãy thử tưởng tượng xem, một hôm khi đi học về, căn nhà trống trải im lìm, cha mẹ không còn tồn tại nữa. Bạn sẽ cảm thấy thế nào? Có vui không khi không còn nghe những lời phiền phức ấy?Tiền có thể nhiều, bạn bè cũng có nhiều, nhưng mà cha mẹ chỉ có một mà thôi. Nếu có người nào đáng để yêu thương nhất trên đời, thì đó chính là Cha Mẹ! (Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu) 1. Cho biết nội dung của đoạn văn? (1 điểm) 2. Câu ghép sau đây có bao nhiêu vế câu, quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu là quan hệ gì? (1 điểm) Tiền có thể nhiều, bạn bè cũng có nhiều, nhưng mà cha mẹ chỉ có một mà thôi 3. Viết vài câu văn thể hiện tình cảm của em đối với cha mẹ. (1 điểm) 9 1.Hãy viết một đoạn văn 8-10 câu cảm nhận về chi tiết xúc động nhất trong truyện ngắn Lão Hạc của nhà văn Nam Cao. (3đ) 2.Học sinh chọn 1 trong 2 đề sau : 4đ Đề 1: Em hãy kể một câu chuyện em được chứng kiến hoặc của bản thân, từ đó rút ra một bài học bổ ích trong cuộc sống. Đề 2: Thuyết minh cuốn sách Ngữ văn 8 tập 1 ĐỀ THAM KHẢO 3 Phần 1: 3điểm Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi: Có lẽ thời nào cũng vậy, con người luôn đặt chữ nhân lên hàng đầu, con người coi trọng chữ nhân hơn cả. Dù thời xưa hay thời nay chữ nhân đó vẫn thể hiện trong cách sống của mỗi con người. Nhân là cách đối nhân xử thế, tấm lòng của con người giữa đời thường, cũng như vai trò trách nhiệm của mỗi cá nhân trong xã hội. Chữ nhân và chữ nghĩa thường đi đôi với nhau. Nghĩa ở đây thể hiện vai trò, trách nhiệm của con người với con người, giữa người với đời, với xã hội hiện tại. Sống ở đời cần có một trách nhiệm với đời, cũng chính vì vậy mà cần có nghĩa, sống có trách nhiệm với quê hương đất nước, với gia đình cũng là nghĩa. (Bàn về Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín – Ái Hữu Biên Hòa) a. Cho biết phương thức biểu đạt của đoạn trích trên.(0.5điểm) b. Nội dung đoạn trích trên đề cập đến vấn đề gì? (0,5điểm) c. Em hãy tìm trợ từ và câu ghép trong đoạn trích trên.(1điểm) d. Từ đoạn trích trên , em hiểu thế nào là nhân nghĩa? (1điểm) Phần 2: 7điểm Câu 1: 3điểm Hãy viết một đoạn văn 8-10 câu theo cách diễn dịch hặc quy nạp với câu chủ đề : Lão Hạc là người cha rất thương con Câu 2: ( 4điểm) Em hãy giới thiệu đồ chiếc bút chì. 11 PHẦN 1: (3 điểm) Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu bên dƣới: Với chương trình “Ước mơ của Thúy”, cô bé Lê Thanh Thúy mắc bệnh ung thư xương, sắp phải xa lìa cuộc đời mà vẫn cố gắng “làm một điều gì đó” cho những đứa trẻ bất hạnh có số phận nghiệt ngã như mình. Thúy vận động tổ chức một buổi trình diễn để quyên góp giúp đỡ những bệnh nhi nghèo mắc bệnh ung thư. Một đứa trẻ phải chịu nhiều bất hạnh như thế mà còn muốn trao tặng cho đời một cái gì đấy và đó chính là tình yêu thương. Nay cô bé đã không còn nhưng chương trình “Ước mơ của Thúy” vẫn tiếp tục. Đó chính là hương thơm bất diệt của đóa hướng dương mà Thúy đã trao. 1. Nêu nội dung văn bản. (0,5 điểm) 2. Người viết bộc lộ thái độ,tình cảm gì qua câu chuyện trên? (0,5 điểm) 3. Mặc dù Thúy mắc phải căn bệnh hiểm nghèo, sắp phải xa lìa cuộc đời nhưng vẫn cố gắng “làm một điều gì đó” cho những đứa trẻ bất hạnh. Còn chúng ta, và em có thể làm gì cho mọi người, cho những số phận nghiệt ngã ấy? (0,5 điểm) 4. Em rút ra cho mình bài học gì từ câu chuyện trên? (0,5 điểm) 5. Nêu công dụng dấu ngoặc kép trong cụm từ “Ước mơ của Thúy”. (1 điểm) Phần II: (7 điểm) 1. Từ đoạn trích Tức nước vỡ bờ của Ngô Tất Tố, em hãy viết đoạn văn theo cách diễn dịc hoặc quy nạp với câu chủ đề : Chị Dậu có tình yêu thƣơng chồng sâu sắc. (3 điểm) 2.Em hãy giới thiệu chiếc bút chì. (4 điểm) HẾT ĐỀ THAM KHẢO 6 ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ I TRƢỜNG THCS NGÔ SĨ LIÊN NĂM HỌC 2019- 2020 MÔN NGỮ VĂN – LỚP 8 Thời gian làm bài 45 phút (không kể thời gian phát đề) Phần I: Đọc hiểu (3 điểm) Một nhà báo trẻ cải trang thành người tật nguyền nghèo khổ, trà trộn vào cuộc sống với những người vô gia cư để tìm hiểu cuộc sống của họ. Ngay ngày đầu tiên, nhìn thấy chàng trai trẻ tàn tật, ăn mặc rách rưới và bẩn thỉu, từ trong đáy mắt của những người vô gia cư đã lập tức biểu lộ ra một sự quan tâm. Một người đàn ông trong nhóm đã bước đến, đưa cho anh nhà báo một cây gậy gỗ và nói: "Người anh em, hãy cầm lấy nó, như thế sẽ thuận tiện hơn nhiều". 13
File đính kèm:
de_cuong_on_tap_hoc_ki_i_mon_ngu_van_8_nam_hoc_2020_2021_tru.pdf

