Tài liệu Ôn tập kiến thức Ngữ văn 9 - Tuần 22 đến 28

docx 19 trang lynguyen 01/02/2026 70
Bạn đang xem tài liệu "Tài liệu Ôn tập kiến thức Ngữ văn 9 - Tuần 22 đến 28", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tài liệu Ôn tập kiến thức Ngữ văn 9 - Tuần 22 đến 28

Tài liệu Ôn tập kiến thức Ngữ văn 9 - Tuần 22 đến 28
 NỘI DUNG ÔN TẬP KIẾN THỨC
MÔN NGỮ VĂN LỚP 9
TUẦN 22
I- VĂN BẢN: Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới
1. Kiến thức cơ bản.
1.1.Tác giả:
- Vũ Khoan – nhà hoạt động chính trị , Phó thủ tướng chính phủ.
1.2. Tác phẩm:
- Viết vào năm 2001, khi đất nứơc ta cùng toàn thế giới bước vào năm đầu tiên của
thế kỉ mới .
- Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.
1.3. Nội dung
1. 3.1. Chuẩn bị hành trang là sự chuẩn bị bản thân con người:
- Con người là động lực phất triển của lịch sử.
- Vai trò con người càng nổi trội trong thế kỷ tới khi nền kinh tế tri thức phát triển 
mạnh mẽ.
1.3.2.Bối cảnh thế giới hiện nay và những mục tiêu nhiệm vụ nặng nề của đất 
nước:
- Sự phát triển như huyền thoại của khoa học công nghiệp.
- Tỷ trọng trí tuệ trong một sản phẩm ngày càng lớn.
- Sự giao thoa, hội nhập giữa các nền kinh tế sâu rộng hơn.
- Nhiệm vụ cụ thể: thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu của nền kinh tế nông nghiệp; 
đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá; tiếp cận ngay với nền kinh tế tri thức.
1.3.3) Những điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam:
- Thông minh, nhạy bén nhưng thiếu kiến thức cơ bản, kém khả năng thực hành.
- Cần cù, sáng tạo nhưng thiếu đức tính tỉ mỉ, không coi trọng nghiêm ngặt qui 
trình công nghệ, chưa quen với cường độ khẩn trương.
- Có tinh thần đoàn kết, đùm bọc trong chiến đấu nhưng thường đố kị nhau trong 
làm ăn, trong cuộc sống thường ngày.
- Bản tính thích ứng nhanh nhưng có nhiều hạn chế trong thói quen và nếp nghĩ, kì 
thị kinh doanh, quen với bao cấp, thói khôn vặt, ít giữ chữ tín.
 Người Việt Nam cần lắp đầy những điểm mạnh và vứt bỏ những điểm yếu, 
thế hệ trẻ cần nhận ra và thực hiện điều này.
 Tác giả đã thể hiện thái độ tôn trọng sự thật, nhìn nhận khách quan, toàn 
diện.
2. Bài tập.
Từ bài “Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới “em hãy viết một đoạn văn từ 10 
đến 15 dòng để nêu những điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam.
II- TIẾNG VIỆT: Các thành phần biệt lập (TT) ( trọng II- 
1. Kiến thức cơ bản.
- Trong văn bản cần phải có liên kết chặt chẽ cả nội dung và liên kết hình thức.
- Về nội dung:
+ Các câu và đoạn phải phục vụ chủ đề chung của văn bản (liên kết chủ đề)
+ Các câu và đoạn phải được sắp xếp theo trình tự hợp lý ( liên kết logic)
- Về hình thức: sử dụng các biện pháp liên kết như
+ Phép lặp: Lặp lại từ ngữ giữa các câu.
+ Phép thế: Câu sau sử dụng từ ngữ khác thay thế từ ngữ đã có ở câu trước.
+ Phép nối: Sử dụng ở câu đứng sau các từ ngữ biểu thị quan hệ với câu trước.
+ Phép đồng nghĩa, trái nghĩa và liên tưởng: xem ghi nhớ sgk/tr43.
1.1. Ví dụ. Sgk/42-43
+ Lặp các từ “tác phẩm”( câu 1, câu 3 (phép lặp từ ngữ):
+ Dùng từ ngữ cùng trường liên tưởng với “Tác phẩm” là “nghệ sĩ”.
+ Thay thế từ “nghệ sĩ” bằng từ “anh” (phép thế).
+ Dùng cụm từ “cái đã có rồi” đồng nghĩa với cụm từ “những vật liệu mượn ở 
thực tại” để thay thế.
+ Dùng quan hệ từ “Nhưng” (phép nối).
2. Bài tập.
Bài tập 2:
Xác định phép liên kết câu trong phần trích sau:
“ Đứng bên cái khoảng rừng bị cháy mới được dập tắt đó, một ông lão đen đúa cứ 
chống cuốc đứng nhìn trân trối những cây tràm bị cháy trụi gốc. Ông lão ở trần, 
đầu buộc khăn xước, mặc cái quần không ra quần ngắn mà cũng chẳng thành 
quần dài. Mồ hôi tươm tươm chảy ướt cả lưng ông lão, tấm lưng cháy nắng, đen 
thui thủi và dăn deo. Đôi mắt ông lão từ nãy giờ không chớp lấy một cái, mà cả 
người ông cũng vậy, cứ im nguyên, như tì hẳn lên cái cán cuốc. Quanh ông còn có 
chừng một chục người đàn bà đứng tuổi, mấy cô du kích khoác súng bá đỏ và ba 
bốn đứa con nít. Tất cả hình như đều ở dưới quyền chỉ huy của ông lão thì phải, 
bởi vì sau khi đứng ngó đám cháy một lúc lâu, bỗng thình lình ông lão đá hất cán 
cuốc, vung cao lưỡi cuốc lên và hô lớn:
- Thôi đi về, đi về!”
(Ông lão vườn chim, Anh Đức)
IIII – TẬP LÀM VĂN: Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí
1. Kiến thức cơ bản.
Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí là bàn về một vấn đề thuộc tư tưởng, đạo 
đưc, lối sông...của con người.
1.1. Yêu cầu.
- Nội dung: làm sáng tỏ các vấn đề tư tưởng, đạo lý bằng cách chứng minh, giải
thích, so sánh, đối chiếu, phân tích...để chỉ rõ mặt đúng, sai nhằm khẳng định - Cò hoà thân trong người mẹ chở che, lo lắng cho từng giấc ngủ.
b.Khi đi học:
- Con theo cò đi học.
- Cò chắp cánh những ước mơ cho con.
- Cò là hình tượng người mẹ quan tâm chăm sóc,nâng bước con.
c. Khi con khôn lớn:
- Con làm thi sĩ: bởi tâm hồn con được Cò chắp cánh bao ước mơ, con viết tiếp 
hình ảnh cò trong những vần thơ cho con.
- Cò là hiện thân của Mẹ bền bỉ, âm thầm nâng bước cho con suốt chặng đường 
đời.
1.2.3) Điều suy ngẫm và triết lí của bài thơ:
- “Con dù lớn vẫn là con của mẹ,
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con.”
 Từ sự thấu hiểu tấm lòng người mẹ đã khái quát một qui luật của tình cảm có 
ý nghĩa bền vững, rộng lớn và sâu sắc.
2. Bài tập.
Bài tập 1:
Ghi lại các dòng thơ ca ngợi vẻ đẹp của tình mẹ trong bài “Con cò” của Chế Lan 
Viên.
Bài tập 2:
Viết đoạn văn từ 10 đến 15 dòng để trình bày cảm nhận của em về hình hình tượng
con cò trong bài thơ “Con cò” của Chế Lan Viên.
II – TẬP LÀM VĂN: Cách làm bài văn NL về một vấn đề tư tưởng đạo lí.
1. Kiến thức cơ bản.
1.1. Các bước làm bài.
- B1: tìm hiểu đề và tìm ý.
- B2: lập dàn bài: Sắp xếp ý hợp lý theo bố cục 3 phần MB,TB,KB.
- B3: viết bài hoàn chỉnh.
- B4: đọc và sửa lỗi.
2. Bài tập.
Bài tập 1:
Phương ngôn Bun- ga- ri có câu: Khi ta tặng bạn hoa hồng tay ta còn vương mãi 
mùi hương.
Hãy viết một văn bản ngắn (khoảng một trang giấy thi) để trình bày suy nghĩ của
em về ý kiến trên.
Bài tập 2:
“Tôi yêu sự thật trên tất cả. Tôi tin rằng tất cả mọi người cũng đều cần đến nó.
Nhưng theo tôi, nhân loại còn cần đến sự giả dối hơ n nếu nó an ủi ta, nó ngọt Cảm nhận về sức sống của mùa xuân đất nước như hối hả, như xôn xao và so 
sánh đất nước như vì sao cứ đi lên phía trước.
 Thể hiện niềm tự hào và tin tưởng của nhà thơ.
 Tâm niệm của nhà thơ:
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa,
Một nốt trầm xao xuyến
Một mùa xuân nho nhỏ,
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi,
Dù là khi tóc bạc.
 Điệp ngữ “ta làm”, “dù là” tô đậm tâm niệm tự nguyện hiến dâng của nhà 
thơ.
 Thể hiện điều tâm niệm chân thành, tha thiết.
 Tổng kết.
-NT:
+ Hình ảnh giản dị, giàu ý nghĩa biểu trưng.
+Giọng thơ trầm lắng thiết tha.
+Âm điệu thiết tha, lắng đọng
+ Cấu tứ chặt chẽ
+ Hình ảnh đẹp, giản dị, gợi cảm,
+ So sánh và ẩn dụ sáng tạo
- ND: Bài thơ là tiếng lòng tha thiết, yêu mến và gắn bó với đất nước với, với cuộc 
đời; thể hiện ước nguyện chân thành của nhà thơ được cống hiến cho đất nước, góp 
một mùa xuân nho nhỏ của mình vào mùa xuân lớn của dân tộc.
2. VIẾNG LĂNG BĂC – Viễn Phương.
2.1. Kiến thức cơ bản.
a. Tác giả:
- Viễn Phương tên thật là Phan Thanh Viễn, sinh năm 1928, quê ở An Giang.
-Ông là nhà thơ, là cây bút sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng Miền 
Nam.
- Khi cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc thắng lợi, đất nước thống nhất, 1976 
lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng vừa khánh thành. Viễn Phương ra thăm Miền Bắc 
vào lăng viếng Bác Hồ. Bài thơ được sáng tác trong dịp đó.
b. Tác phẩm Muốn làm đóa hoa 
Muốn làm cây tre 
 Điệp ngữ “muốn làm” cùng hình ảnh con chim, đoá hoa, cây tre, thể hiện 
nguyện ước của tác giả muốn hoá thân, hoà nhập vào những cảnh vật để được 
gần Bác.
*. Tổng kết.
-Nghệ thuật: kết hợp miêu tả với biểu cảm, tạo hình ảnh ẩn dụ tượng trưng.
- Lòng ngưỡng vọng, xót thương và ơn nghĩa với Bác
- Đọc ghi nhớ sgk.
3. Bài tập.
Bài tập 1. Học thuộc lòng hai bài thơ trên.
Bài tập 2. Ghi lại những đặc điểm tiêu biểu về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của 
các tác giả Thanh Hải, Viễn Phương.
Bài tập 3. Nêu hoàn cảnh sáng tác của hai bài thơ: Mùa xuân nho nhỏ và viếng 
lăng Bác.
Bài tập 4.
Phân tích cái hay trong việc dùng từ “Tôi” và từ “Ta” trong bài thơ “Mùa xuân nho 
nhỏ” của Thanh Hải.
Bài tập 5.
Viết đoạn văn từ 10 đến 15 dòng để phân tích một hình ảnh ẩn dụ mà Viễn Phương 
đã sử dụng thành công trong bài “Viếng lăng Bác”.
II- TẬP LÀM VĂN: Nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích.
1. Kiến thức cơ bản.
a. Lý thuyết.
- Nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích là trình bày những nhận xét, đánh 
giá của mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể.
- Những nhận xét, đánh giá về truyện phải xuất phát từ cốt truyện, tính cách, số 
phận của nhân vật và nghệ thuật trong tác phẩm được người viết phát hiện và khái 
quát.
- Các nhận xét hoặc đánh giá phải rõ ràng, đúng đắn, có luận cứ và lập luận thuyết 
phục.
b. Các bước làm bài. (xem các bước làm bài ở mục tập làm văn tuần 24)
Đầy đủ các phần của một bài nghị luận.
- MB: giới thiệu được tên tác phẩm, tác giả ( tùy từng yêu cầu cụ thể của đề)
và nêu ý kiến đánh giá sơ bộ của mình. thân, rút ngắn khoảng cách địa lý giữa mọi người, phục vụ cho việc học tập, giải 
trí sau những ngày học tập căng thẳng..., và chỉ ra các mặt không tích cực là nếu 
sử dụng nhiều dễ gây nghiện, dễ bị trầm cảm, mất thời gian... Đặc biệt có đến 
96,9% học sinh tham gia khảo sát cho rằng học sinh nên sử dụng mạng xã hội và 
đồng ý về việc xây dựng bộ cẩm nang sử dụng mạng xã hội hiệu quả”
 (09/01/2019 -THANH NIÊN ONLINE)
 a) Xác định phương thức biểu đạt của đoạn trích trên. Cho biết chủ đề của 
đoạn trích. (1.0)
 b) Chỉ ra thành phần biệt lập được sử dụng trong đoạn trích. Gọi tên thành 
phần biệt lập đó. (1.0)
 c) Để sử dụng mạng xã hội hiệu quả, theo em, em sẽ xây dựng nội dung cẩm 
nang sử dụng mạng xã hội như thế nào ? (1.0)
Câu 2 (3.0 điểm):
 “Những gì chúng ta “trưng” lên Facebook đều được lưu vào lý lịch số. 
Nghĩa là, hôm nay bạn viết và bình luận gì về người khác là cơ sở để đánh giá về 
chính con người bạn. Ít ai biết, những lời xúc phạm, nhục mạ người khác trên 
Facebook là tự bôi đen chính mình. Hòa trong cuộc cách mạng số, nên chăng 
chúng ta, nhất là các bạn trẻ hãy giữ gìn cho mình một “sơ yếu lý lịch” sạch sẽ, 
trong sáng cả về kiến thức lẫn tư cách đạo đức.”
 (PGS. TS. Nguyễn Văn Nhã)
Hãy viết một đoạn văn nghị luận xã hội từ 150 – 200 chữ trình bày suy nghĩ của 
em về văn hóa mạng.
Câu 3 (4.0 điểm): 
 “Chiếc lược được người cha tỉ mẩn làm từ ngà voi gửi cho con gái, đã trở 
thành biểu tượng của tình cha con, là chứng nhân của tình yêu, niềm tin, hy vọng, 
sự kiên cường khi cùng hai cha con bé Thu đi qua cuộc chiến đầy đau thương mất 
mát.” 
 Bằng những hiểu biết của em về đoạn trích “Chiếc lược ngà”, em hãy viết bài 
văn cảm nhận về nhân vật bé Thu. 
ĐỀ 2
Câu 1 : (3,0 điểm)
 Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:
 "Người ta gọi tuổi mới lớn là 'tuổi biết buồn'. 'Biết buồn' tức là chạm ngõ 
cuộc đời rồi đó. Biết buồn tức là bắt đầu nhận ra sự hiện hữu của những khoảng 
trống trong tâm hồn. Biết buồn là khi nhận ra rằng có những lúc mình cảm thấy cô 
độc. Tình trạng chặt phá rừng tràn lan là một trong những nguyên nhân gây ra hiện 
tượng lũ quét và sạt lở đất
 (2) Mưa lũ trong mấy ngày vừa qua ở một số tỉnh phía Bắc đã gây ra những 
thiệt hại nặng nề về nhân mạng và tài sản. Báo chí và các trang mạng xã hội đã 
chia sẻ rất nhiều hình ảnh người dân không thể về nhà do sạt lở đường hoặc bị núi 
lở che lấp mất đường; hình ảnh nước đỏ ngầu chảy cuồn cuộn, muốn cuốn phăng 
tất cả những gì trên đường đi của nó; hình ảnh nhà sập, tài sản bị hư hỏng, mất 
mát, đau lòng nhất là nhiều người bị vùi dưới bùn Đây là trận lũ đầu mùa, 
cường độ và tính chất có phần không quá nguy hiểm, nhưng dường như công tác 
dự báo và chuẩn bị ứng phó không được tốt lắm. Không chỉ người dân mà cả chính 
quyền địa phương cũng có vẻ bị bất ngờ.
[] (3) Hiện tượng lũ quét và sạt lở đất ở nhiều tỉnh vùng núi Tây Bắc, Đông Bắc 
đã được cảnh báo nhiều lần, nhưng dường như càng về sau càng nguy hiểm và 
phức tạp hơn. Một phần là do điều kiện sinh hoạt, tập quán sản xuất của người 
dân ở vùng cao, vốn ở gần các sông, suối, dưới chân các núi, đồi, khi mưa lớn và 
kéo dài thì đất núi dễ bị sạt lở, nước sông, suối nhanh chóng dâng lên cao, nếu 
người dân không kịp thời sơ tán thì rất dễ xảy ra tai nạn thương tâm.
 (4) Nhưng nguyên nhân sâu xa chính là tình trạng chặt phá rừng tràn lan, khi 
đất không thể giữ được nước, mưa bao nhiêu thì chảy cả về vùng trũng thấp, trên 
đường đi cuốn trôi cả đất, đá, cây gỗ. Có clip được chia sẻ cho thấy có những 
đoạn đường nước từ trên núi chảy xuống như thác, chực chờ sạt những vạt đất lớn 
xuống người đang đi bên dưới. Đó là do rừng trên núi bây giờ chỉ là rừng thưa, 
cây bụi, thậm chí có nơi đã trở thành đồi trọc, núi trọc, lớp lá cây, mùn trên mặt 

File đính kèm:

  • docxtai_lieu_on_tap_kien_thuc_ngu_van_9_tuan_22_den_28.docx